Thông báo tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2018 - 2019
Văn bản
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 8
Số lượt truy cập: 3686956
QUANG CÁO
SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CHO HỌC SINH 5/24/2018 7:18:49 AM


Quan điểm triết học Mác-Lênin cho rằng, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.

Theo "Từ điển Bách khoa Việt Nam", nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể.

Theo quan điểm của phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Con đường nhận thức đó được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong.

Quá trình hoạt động nhận thức được phân chia làm hai trình độ: nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính.

Trình độ nhận thức cảm tính là quá trình phản ánh thực tiễn dưới dạng cảm giác, tri giác và biểu tượng. Nhờ có cảm giác và tri giác mà thiết lập được mối quan hệ trực tiếp giữa nhận thức của con người với thế giới bên ngoài.

Trình độ nhận thức lí tính, còn gọi là trình độ logic hay đơn giản hơn là tư duy. Tư duy là sự nhận thức khái quát và gián tiếp của con người về những tính chất, những mối liên hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng của thực thể khách quan.

Việc học tập của HS là một loại hoạt động đặc thù của con người, nó có cấu trúc giống như hoạt động lao động sản xuất nói chung, bao gồm các yếu tố có quan hệ tác động lẫn nhau: một bên là động cơ, mục đích, phương tiện và bên kia là hoạt động, hành động và thao tác. Động cơ quy định sự hình thành và diễn biến của hoạt động. Muốn thỏa mãn được động cơ đó, phải thực hiện lần lượt những hành động tương ứng để đạt được những mục đích cụ thể. Cuối cùng mỗi hành động được thực hiện bằng nhiều thao tác sắp xếp theo một trình tự xác định, ứng với mỗi thao tác phải sử dụng những phương tiện, công cụ thích hợp. Đối tượng, của hoạt động học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần chiếm lĩnh. Nội dung của đối tượng này không hề thay đổi sau khi được chiếm lĩnh, nhưng chính nhờ có sự chiếm lĩnh này mà các chức năng tâm lí của chủ thể mới được thay đổi và phát triển. Kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của HS. Như vậy, nhiệm vụ chính của GV là tổ chức, hướng dẫn hoạt động của HS để thông qua những hoạt động đó HS lĩnh hội được nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển những phẩm chất tâm lí, hình thành nhân cách [16].

Mục đích của DH là đem đến sự phát triển toàn diện cho HS. Điều đó nói lên rằng giữa DH và phát triển có mối quan hệ với nhau. Đó là mối quan hệ hai chiều, biện chứng: trước hết phát triển là mục đích cuối cùng của hoạt động dạy học, đồng thời khi tư duy HS phát triển thì việc thu nhận và vận dụng kiến thức của HS sẽ nhanh chóng và hiệu quả hơn, quá trình DH diễn ra một cách thuận lợi hơn. Nghĩa là sự hoạt động và trí tuệ của con người có mối quan hệ mật thiết với nhau. Không có hoạt động thì trí tuệ không thể phát triển tốt được.

Nhìn chung DH bằng cách này hay cách khác đều có thể góp phần phát triển HS, nhưng DH được coi là đúng đắn nhất nếu nó đem lại sự phát triển tốt nhất cho người học. Theo Vygotsky thì: “DH được coi là tốt nhất nếu nó đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển”. Cơ sở của quan điểm này là lý thuyết “vùng phát triển gần nhất” do ông đề xướng. Lý luận DH đã chỉ ra rằng: “DH phải có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học”. Một mặt trí tuệ của HS chỉ có thể phát triển tốt trong quá trình DH khi thầy giáo phát huy tốt vai trò của người tổ chức, điều khiển làm giảm nhẹ khó khăn cho HS trong quá trình nhận thức, biết cách khuyến khích HS tham gia vào hoạt động nhận thức tích cực trong dạy học. Mặt khác đối với HS để phát triển trí tuệ của mình không có cách nào khác là phải tự mình hành động một cách tích cực và tự giác. Đó chính là bản chất của của mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học, giữa hoạt động và phát triển.

Thông qua hoạt động trí tuệ HS phát triển dần từng bước từ thấp đến cao. Bởi vậy các biện pháp giáo dục của thầy cũng phải thay đổi cho phù hợp với từng bậc thang của sự phát triển. Theo lý thuyết của Vygotsky thì trình độ ban đầu của HS tương ứng với “vùng phát triển hiện tại”. Trình độ này cho phép HS có thể thu được những kiến thức gần nhất với kiến thức cũ để đạt được trình độ mới cao hơn. Vygotsky gọi đó là “vùng phát triển gần nhất”. Khi HS đạt tới vùng phát triển gần nhất nghĩa là các em đang ở “vùng phát triển hiện tại” nhưng ở trình độ mới cao hơn. Sau đó thầy giáo lại tiếp tục tổ chức và giúp đỡ HS đưa HS tới “vùng phát triển gần nhất” mới để sau đó nó lại trở về “vùng phát triển hiện tại”. Cứ tiếp tục như vậy sự phát triển của HS đi từ nấc thang này đến nấc thang khác cao hơn.

Sự gợi ý khéo léo có tính chất gợi mở của GV sẽ có tác dụng kích thích tính tự lực và tư duy sáng tạo của HS, lôi kéo họ chủ động tham gia vào quá trình DH một cách tích cực, tự giác. J. Piaget đã kết luận: “Người ta không học được gì hết, nếu không phải trải qua sự chiếm lĩnh bằng hoạt động, rằng HS phải phát minh lại khoa học, thay vì nhắc lại những công thức bằng lời của nó”.

Theo Vygotsky, sử dụng phương tiện chính là sử dụng các đối tượng nào đó làm phương thức, phương tiện nắm hành vi của bản thân. Do đó, sự phát triển, hiện đại hóa các phương tiện DH sẽ góp phần phát triển các hành vi, thao tác tư duy và năng lực sáng tạo của HS. Ông còn cho rằng DH sẽ có hiệu quả hơn khi HS tham gia các hoạt động với môi trường hỗ trợ học tập, và nhận được những hướng dẫn gián tiếp của các công cụ học tập. Những công cụ này được định nghĩa như là các chiến lược nhận thức, người cố vấn, máy tính, tư liệu, hoặc bất kì dụng cụ nào cung cấp thông tin cho người học. Vai trò của các công cụ này là chủ động hỗ trợ người học hoàn thành nhiệm vụ học tập gần với giới hạn của vùng phát triển gần .

Những thành tựu của tâm lí học nhận thức và tâm lí học sư phạm đã cho phép khẳng định vai trò và tác dụng của các phương tiện trực quan trong việc kích thích hứng thú nhận thức, tạo cơ sở cho nhận thức xuất hiện và động lực của quá trình nhận thức được duy trì và phát triển. Do đó làm cho người học đạt kết quả cao trong việc chiếm lĩnh tri thức lẫn hình thành năng lực tư duy sáng tạo và kĩ năng thực hành. Dưới đây là một số biện pháp giúp học sinh nhận thức có hiệu quả

- Tăng cường sử dụng TN mở đầu để tạo tình huống có vấn đề: Tạo tình huống có vấn đề để mở đầu bài DH vật lí là rất cần thiết. Có nhiều cách khác nhau để tạo tình huống có vấn đề như: kể một câu chuyện, cho HS quan sát một số hình ảnh, đoạn phim, đặt ra một số câu hỏi liên quan đến thực tế…

Tuy nhiên, biện pháp mang lại hiệu quả cao và trực quan nhất là tăng cường sử dụng TN mở đầu để tạo tình huống có vấn đề. Những TN này không yêu cầu quá phức tạp, tuy nhiên HS sẽ khó giải thích với những kiến thức đã được học. Do đó sẽ khiến HS ngạc nhiên, thích thú, tò mò, kích thích hứng thú, và mong muốn chiếm lĩnh tri thức nhằm làm sáng tỏ hiện tượng.

- Giải quyết vấn đề một cách hợp lí bằng cách đưa TN khảo sát, TN minh họa ra đúng lúc: Thông qua TN, HS có thể tiếp thu được một số thông tin nhất định từ những vấn đề đang học. Việc đưa TN khảo sát, TN minh họa ra đúng lúc giúp HS thu thập tài liệu một cách dễ dàng. Dựa trên những thông tin thu thập được, các em có thể đưa ra đánh giá sơ bộ về tính chất của các sự vật, hiện tượng.

Bên cạnh đó, việc đưa TN ra đúng lúc có tác dụng kiểm tra trực tiếp hoặc thông qua một hệ quả về những dự đoán của HS trước đó. Điều này đặc biệt khuyến khích HS mạnh dạn đưa ra những suy nghĩ, nhận định riêng của mình, đồng thời giúp HS tự giác điều chỉnh tri thức một cách đúng đắn.

- Kết hợp TN biểu diễn của GV và TN trực diện của HS để kích thích hứng thú và rèn luyện kĩ năng thực hành cho HS: Bản thân HS không thể tự lắp ráp, tiến hành các TN một cách có hiệu quả. Nếu làm TN không thành công sẽ khiến các em chán nản và mất tự tin vào bản thân. Do đó GV cần phải kiên trì, có kế hoạch cụ thể, vận dụng phối hợp TN của GV và TN của HS để rèn luyện khả năng tư duy cũng như kĩ năng thực hành tổng hợp, tạo điều kiện cho các em làm quen, biết cách sử dụng một số dụng cụ đo lường, thiết bị kĩ thuật thông dụng trong cuộc sống hàng ngày.

- Chú trọng đến việc rèn luyện cho HS kĩ năng giải bài tập TN: Bài tập TN là phương tiện để nâng cao năng lực nhận thức cảm tính và lí tính cho HS. Thông qua việc giải bài tập TN, các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, khái quát hóa… được rèn luyện và phát triển. Tuy nhiên, việc sử dụng bài tập TN trong DH vật lí hiện nay chưa được GV quan tâm đúng mức.

Bài tập TN là loại bài tập yêu cầu cao tính tích cực, tự lực của HS qua các thao tác chân tay và trí tuệ, nên thói quen tự đặt câu hỏi, tinh thần độc lập suy nghĩ, tư duy khoa học, tư duy sáng tạo được rèn luyện và có cơ hội phát triển.

Vì thế, GV cần quan tâm đến việc sử dụng bài tập TN và rèn luyện cho HS các kĩ năng giải bài tập TN nhiều hơn nữa trong quá trình DH vật lí.

- Định hướng cho HS thảo luận về các phương án thiết kế, chế tạo và tiến hành TN nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, tính tích cực trong hoạt động nhận thức và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn: Việc trao đổi, thảo luận, tranh luận sẽ giúp HS mạnh dạn diễn đạt, bộc lộ quan điểm của mình, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của các bạn trong lớp. Điều này còn góp phần phát huy tính tích cực, tự lực, phát triển năng lực giao tiếp, khắc phục yếu điểm rụt rè trong học tập.

Do đó giúp HS tự tin, tích cực, chủ động hơn trong học tập và trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

- Sử dụng MVT và các thiết bị hiện đại hỗ trợ TN trong DH vật lí: Trong những năm gần đây, MVT đã nhanh chóng xâm nhập vào nhà trường và trở thành phương tiện DH có tác dụng cao. Một mặt, MVT góp phần mở rộng các nguồn tri thức cho HS, giúp HS lĩnh hội tri thức nhanh chóng. Mặt khác, MVT còn góp phần vào việc đổi mới PPDH của GV ở trường phổ thông.

Đối với TN, MVT hỗ trợ với nhiều hình thức như: TN ảo, TN mô phỏng, phim TN..., ngoài ra còn hỗ trợ TN thực có các dụng cụ và phần mềm chuyên biệt.

Việc sử dụng MVT hỗ trợ TN sẽ tạo điều kiện rộng rãi cho DH theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS.

 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
HT. Nguyễn Thanh Sơn
HT. Nguyễn Thanh Sơn
ĐĂNG NHẬP

Tên đăng nhập
Mật khẩu
HÌNH ẢNH
LIÊN KẾT WEBSITE


BẢN QUYỀN THUỘC VỀ TRƯỜNG THPT NGUYỄN CHÍ THANH
Địa chỉ: HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 0526268065